Huyết áp là gì?
Huyết áp (HA) là áp lực máu trong lòng động mạch, tạo tuần hoàn đi khắp cơ thể. Nó được tạo ra do lực co bóp cơ tim và sức cản động mạch.
Huyết áp dao động trong ngày: tăng lên khi gắng sức, tập thể dục, hoạt động nặng và thấp hơn lúc nghỉ, đặc biệt là trong lúc ngủ.
Đo huyết áp là phương cách duy nhất cho kết quả chính xác để khẳng định có tăng huyết áp hay không.
Huyết áp được đo như thế nào?
Khi đo HA điều quan trọng là bạn cảm thấy thoải mái và không hồi hộp hay căng thẳng. Bao quấn máy HA sẽ phồng lên do chứa khí ôm sát cánh tay bạn tạo áp lực để ngăn dòng chảy trong động mạch cánh tay.
Khi áp lực bắt đầu hạ xuống từ từ, dòng máu bắt đầu chảy lại trong lòng động mạch (có thể nghe được bằng ống nghe). Thời điểm mà nghe tiếng mạch đập đầu tiên gọi là huyết áp tâm thu (HATT) và trị số đo được đọc trên đồng hồ. Khi áp lực trong băng quấn giảm xuống dần, tiếng mạch đập sẽ nhỏ dần đến lúc mất hẳn, ở thời điểm này gọi là huyết áp tâm trương (HATTr). Ngày nay, các máy đo huyết áp hầu hết đều lấy đơn vị huyết áp là milimét Hg (thủy ngân).
Những trị số này quan trọng vì nó xác định một người có tăng HA hay không? Ví dụ 120/80 mmHg có nghĩa là HATT là 120 mmHg và HATTr là 80 mmHg.
Ý nghĩa của cách ghi chỉ số huyết áp
Huyết áp được thể hiện bởi 2 trị số (ví dụ: 120/70 mmHg).
Trị số đầu (120) thể hiện huyết áp tâm thu và trị số số sau (70) thể hiện huyết áp tâm trương với mmHg là đơn vị của huyết áp được tính bằng milimét Hg. Một số trường hợp huyết áp được quy đổi thành đơn vị cmHg cho dễ đọc (ví dụ: 120/70 mmHg tương đương với 12/7 cmHg).
Cả hai trị số huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương đều quan trọng trong chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp.
Khi nào thì bạn nên kiểm tra huyết áp của mình?
Sau 18 tuổi, nên đo huyết áp định kỳ mỗi 2 năm. Đo thường xuyên hơn nếu bạn có HA cao trước đó.
Nguyên nhân của tăng huyết áp là gì?
90-95% tăng huyết áp không rõ nguyên nhân (còn gọi vô căn hay nguyên phát). Nó có thể là phối hợp của nhiều yếu tố từ chế độ ăn và lối sống.
Ít hơn 10% còn lại bệnh nhân tăng huyết áp có nguyên nhân (còn gọi là tăng huyết áp thứ phát) như bệnh nhu mô thận, suy thận mạn, hẹp động mạch thận, hẹp eo động mạch chủ, u tủy thượng thận, hội chứng Cushing, ngưng thở lúc ngủ, cường Aldosteron, do thuốc… Trong quá trình khám bệnh, nếu bác sĩ nghi ngờ tăng huyết áp là do nguyên nhân thứ phát gây ra thì bác sĩ sẽ cho làm một số xét nghiệm chuyên biệt để chẩn đoán bệnh.
Bệnh tăng huyết áp có di truyền không?
Hiện nay, vẫn chưa có nghiên cứu lớn nào trên thế giới chứng minh có sự di truyền trong bệnh tăng huyết áp.
Có thể nói tăng huyết áp là một bệnh lý kết hợp bởi nhiều yếu tố tạo thành: chế độ ăn uống, chế độ vận động, sự thay đổi lão hóa khi tuổi cao và có thể do một nguyên nhân thứ phát gây ra…
Do đó, nếu các thế hệ trong một gia đình có “chế độ sống nguy cơ” giống nhau (ví dụ: ăn mặn, ít vận động, uống nhiều bia rượu…) thì khả năng các thế hệ trong gia đình đó mắc bệnh tăng huyết áp là rất cao.
HA của bạn khi trẻ luôn ở mức thấp, vậy thì bạn không bị tăng huyết áp về sau, đúng hay sai?
Sai. Tăng huyết áp là kết quả của sự tích lũy dần dần theo thời gian của “chế độ sống nguy cơ” và sự thay đổi về cấu trúc cơ thể khi tuổi tác ngày càng cao. Vì thế, cho dù mức huyết áp của bạn khi trẻ nằm trong mức giới hạn bình thường thì không có nghĩa là bạn không bị tăng huyết áp sau này.
Đối với phụ nữ trẻ, huyết áp thường ở mức thấp. Tuy nhiên, bạn đừng nên chủ quan vì sau tuổi mãn kinh, lượng estrogen (là yếu tố bảo vệ hệ tim mạch) giảm dần có thể góp phần làm tăng huyết áp sau này.
Những thói quen nào trong cuộc sống là yếu tố nguy cơ làm tăng huyết áp nặng hơn hoặc khó kiểm soát hơn?
Một số thói quen không tốt cho hệ tim mạch cũng như là yếu tố nguy cơ làm tăng huyết áp nặng hơn hoặc khó kiểm soát hơn:
Ít vận động thể lực Căng thẳng tinh thần Chế độ ăn nhiều muối Ăn nhiều mỡ động vật Uống nhiều rượu bia Hút thuốc lá
Tại sao huyết áp cao lại quan trọng?
Tăng huyết áp và cả tiền tăng huyết áp gây tổn thương mạch máu của bạn. Nó là yếu tố nguy cơ tim mạch chính, làm tổn thương những cơ quan chính yếu của cơ thể bị não, tim, thận, mắt. Người ta đã chứng minh giảm huyết áp làm giảm đáng kể nguy cơ những tổn thương trên.
Bảng : Các cơ quan tổn thương do tăng huyết áp
Cơ quan chính yếu Biến chứng Não Nhồi máu não hay xuất huyết nãoSa sút trí tuệ Tim Phì đại thất tráiSuy timThiếu máu cơ tim, nhồi máu cơ tim Thận Tiểu đạm, suy thận Mắt Tổn thương võng mạc Mạch máu ngoại biên Hẹp mạch máu
Hình ảnh xuất huyết não và nhồi máu cơ tim ở bệnh nhân tăng huyết áp
Tăng huyết áp có triệu chứng không?
Khi huyết áp cao thường không có triệu chứng nên nó được gọi là “kẻ giết người thầm lặng”, đó là lý do bạn nên kiểm tra huyết áp định kỳ.
Kiểm tra huyết áp ngay khi bạn có triệu chứng như nhức đầu, xây xẩm, hồi hộp, mờ mắt, bất lực (nam giới), dễ mệt, yếu nửa người, đau ngực, khó thở, đi tiểu nhiều…
Mục tiêu điều trị huyết áp của bạn là gì?
Mục đích điều trị là giảm tối đa nguy cơ các biến cố tim mạch nguy hiểm (như đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, suy tim, tai biến mạch não, suy thận…), tăng tuổi thọ và chất lượng cuộc sống.
Hạ huyết áp một cách tích cực, dưới 140/90 mmHg mà không tác dụng phụ của thuốc. Đối với những bệnh nhân có kèm bệnh lý đái tháo đường hay bệnh thận thì HA <130/80 mmHg.
Điều trị tăng huyết áp như thế nào?
Biện pháp không dùng thuốc: thay đổi lối sống
Tất cả bệnh nhân tăng huyết áp hay tiền tăng huyết áp hay bệnh cần điều trị thuốc đều thực hiện thay đổi lối sống.
Bỏ hút thuốc lá: Nicotin trong thuốc lá và các chiết xuất của nó làm co thắt mạch máu, làm tim bạn đập nhanh hơn và gây tăng HA. Đây là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất đối với hệ tim mạch (cả đau tim và đột quỵ) và làm tăng nguy cơ tăng huyết áp rõ ràng.
Chế độ ăn: ít muối, ít chất béo bão hòa và ít cholesterol; giàu trái cây, rau củ, sản phẩm ít chất béo từ sữa; giới hạn chất ngọt, các thức uống có đường. Ăn mặn là yếu tố góp phần làm tăng huyết áp, lượng muối hạn chế ở mức < 2,4g/ngày (1 muỗng cafê tương đương với 2,3g muối). Tránh dùng các sản phẩm ướp muối, rau củ đóng hộp (có chứa nhiều muối).
Hạn chế uống rượu, bia: nếu bạn có uống thì nên hạn chế tối đa mỗi ngày dưới 80 ml rượu mạnh, đối với bia là dưới 600 ml (tương đương 2 lon bia) và đối với rượu vang là dưới 250 ml.
Giảm cân: chỉ số BMI (body mass index)=cân nặng (kg)/chiều cao2 (m) được dùng để đánh giá tình trạng cân nặng của bạn. Bạn cần duy trì BMI 18,5-24,9kg/m2 để có cân nặng lý tưởng.
Ngày nay, chỉ số vòng eo là 1 dấu hiệu quan trọng trong tiên lượng nguy cơ bệnh lí tim mạch, do đó bạn cần chú ý đến số đo này của mình. Đối với nam cần giữ vòng eo < 90 cm và nữ là < 80 cm. Bạn nên nhớ: vòng eo càng to thì tuổi thọ càng nhỏ. Nếu bạn thừa cân thì giảm cân giúp bạn giảm huyết áp mà còn có lợi đối với những bệnh nhân tiểu đường, rối loạn mỡ máu… Tác dụng hạ áp của việc giảm cân có thể được nâng cao nếu đồng thời tăng cường tập thể dục, hạn chế rượu với những người nghiện rượu, thừa cân và giảm ăn muối.
Tập thể dục:
Bạn nên thường xuyên tập thể dục ở mức độ vừa phải như đi bộ, chạy bộ hay bơi lội trong ít nhất 30 phút, hầu hết các ngày trong tuần. Mức độ luyện tập tùy thuộc vào tình trạng bệnh tật và sức khoẻ chung của bạn.
Tuy nhiên, nên tránh tập vận động đẳng trương như nâng tạ vì có thể có tác dụng tăng huyết áp. Nếu tăng huyết áp chưa được kiểm soát và bạn đang ở tình trạng tăng huyết áp nặng thì không nên tập thể dục hoặc hoãn lại cho đến khi được điều trị hiệu quả.
Tập thể dục ngoài trời cần tránh những lúc thời tiết lạnh. Việc tập thể dục vào lúc sáng sớm, khi nhiệt độ bên ngoài còn thấp có thể làm co mạch gây tăng huyết áp và gây co mạch máu nuôi tim gây nhồi máu cơ tim. Do đó, thời gian tập thể dục tốt nhất trong ngày là lúc chiều tối.
Nếu bạn tăng huyết áp nhẹ, biện pháp thay đổi lối sống trên có thể đủ hạ huyết áp xuống mức bình thường mà chưa cần đến dùng thuốc. Đối với một số khác, những biện pháp này có thể giúp họ chỉ cần dùng ít thuốc hơn hoặc dùng với liều thấp đã đủ kiểm soát huyết áp.
Khi nào cần đến thuốc để điều trị tăng huyết áp?
Sau khi bạn thực hiện các biện pháp thay đổi lối sống như trên mà huyết áp vẫn không giảm thì bạn cần được bác sĩ chuyên khoa kê toa thuốc điều trị. Các thuốc đều cần thời gian một vài tháng để có tác dụng hoàn toàn, nên bác sĩ sẽ kê toa thuốc liểu thấp và tăng liều chậm cho tới khi có tác dụng hạ áp như mong muốn.
Các dấu hiệu chứng tỏ huyết áp dù đang điều trị nhưng vẫn chưa đạt hiệu quả?
Huyết áp đo được trong ngày dao động, lúc cao, lúc bình thường.
Huyết áp vẫn ở mức > 140/90 mmHg.
Vẫn có những dấu hiệu của THA: nhức đầu, hoa mắt, chóng mặt…
Bệnh nhân chỉ cần uống thuốc hạ áp thôi là đủ, đúng hay sai?
Sai. Điều trị THA luôn là sự kết hợp giữa thuốc và những phương pháp không dùng thuốc (quan trọng nhất là thay đổi thói quen sinh hoạt theo chiều hướng tốt cho hệ tim mạch). Cho dù đã uống thuốc THA nhưng nếu bạn có một lối sống không lành mạnh thì huyết áp cũng không thể được kiểm soát tốt.
Làm sao để phòng ngừa được bệnh tăng huyết áp?
Cách đơn giản và hữu hiệu nhất đó chính là duy trì 1 thói quen sinh hoạt lành mạnh và theo dõi huyết áp ít nhất mỗi 1-2 năm 1 lần để sớm phát hiện giai đoạn tiền tăng huyết áp hoặc giai đoạn tăng huyết áp để có chế độ chăm sóc, theo dõi và điều trị phụ hợp.
Người tăng huyết áp cần lưu ý gì khi quan hệ tình dục trong đời sống hằng ngày?
Quan hệ tình dục trong cuộc sống hàng ngày là một yếu tố quan trọng trong đời sống vợ chồng. Tuy nhiên, đây cũng là 1 sự gắng sức đối với cả nam và nữ. Nếu bạn mắc bệnh THA thì lưu ý trong quá trình gần gũi bạn đời, huyết áp có thể tăng vọt và nếu tăng quá cao có thể dẫn đến tai biến mạch máu não. Vì thế, cần trao đổi với bạn đời về khó khăn của mình để nhận được sự thông cảm và giúp đỡ. Tăng huyết áp nếu được kiểm soát tốt thì vẫn đảm bảo khả năng sinh hoạt tình dục bình thường. Không nên quan hệ tình dục khi huyết áp chưa được kiểm soát ổn định vì rất dễ gây tai biến. Một số thuốc điều trị tăng huyết áp có thể có tác dụng phụ gây giảm ham muốn, do vậy, bạn cần thảo luận nguy cơ này với bác sĩ điều trị.
Nếu bị tăng huyết áp thì phải điều trị trong bao lâu?
Nếu đã được chẩn đoán là THA có nghĩa bạn phải uống thuốc điều trị liên tục hàng ngày và suốt đời. THA một khi đã xuất hiện thì cần điều trị càng sớm càng tốt và cần giữ mức huyết áp ổn định. Nếu bạn ngưng thuốc đột ngột vì nghĩ rằng huyết áp của mình đã bình thường thì bạn đang mắc sai lầm lớn, bởi vì mức huyết áp khiến bạn hài lòng “chủ quan” đó chỉ đạt được là do thuốc điều trị. Khi bạn đột ngột ngưng thuốc, huyết áp sẽ vọt lên mức cao và nguy cơ xảy ra tai biến mạch máu não là vô cùng lớn.
Khi huyết áp bình thường có nên tiếp tục điều trị nữa không?
Tăng huyết áp là bệnh mạn tính, điều trị suốt đời. Trong quá trình điều trị, huyết áp trở về bình thường thì bạn đã đạt mục tiêu điều trị nên phải tiếp tục duy trì chế độ điều trị đó nhằm duy trì mục tiêu. Nếu ngưng thuốc, huyết áp của bạn sẽ tăng trở lại ở mức như trước khi điều trị thậm chí còn có thể cao hơn và đây là thời điểm thường xảy ra biến chứng tim mạch nhất.
Một số điều cần lưu ý ở bệnh nhân tăng huyết áp
Bệnh tăng huyết áp phải điều trị liên tục, lâu dài nên cần hiểu biết đầy đủ về bệnh, tạo sự hợp tác chặt chẽ giữa bệnh nhân và bác sĩ, tuân thủ điều trị. Điều trị đồng thời các yếu tố nguy cơ đi kèm như hút thuốc lá, rối loạn mỡ máu, đái tháo đường… Uống thuốc theo toa và sự hướng dẫn của bác sĩ. Không được tự ý ngưng thuốc điều trị tăng huyết áp khi chưa có ý kiến của bác sĩ. Không được tự ý dùng các thuốc khác để điều trị tăng huyết áp khi chưa có ý kiến của bác sĩ. Khi có triệu chứng bất thường trong quá trình điều trị nên tái khám để được hướng dẫn cụ thể.
Chúng ta có thể dựa vào các ý sau đây để trả lời xem mình có lối sống khỏe mạnh không :Nhớ các số 0, 3, 5, 140, 5, 3, 0
0 Không hút thuốc lá 3 Đi bộ 3 cây số mỗi ngày hoặc 30 phút mỗi ngày 5 Ăn trái hoặc rau 5 lần ngày 140 Huyết áp tâm thu đo được dưới 140 5 Cholesterol toàn phần nhỏ hơn 5 mmol/L 3 Cholesterol dạng LDL nhỏ hơn 3 mmol/L 0 Không để quá cân nặng và không để mắc bệnh đái tháo đường
