Teq's Blog

Teq's Blog

Những vụn san hô

Do rẽ nhầm nên tôi buộc phải đi quá tới gần bốn chục km cao tốc về phía nam, bèn vòng xuống Quốc lộ 1 đi đường bờ biển cho đỡ phải cày lại chặng cao tốc, nhân tiện ngắm cảnh. Bờ biển Ninh Thuận hiện ra bên phía tay phải. Một quãng thấy bãi đẹp, vợ bảo tấp xe vào cho thằng bé con tắm biển một chút, khổ thân mấy ngày giời nó chỉ ngồi trong xe.

Đầu đường xuống biển có một ông lão ngồi bán mấy quả dừa, bên dưới bãi biển có một trung niên trạc tuổi tôi đang câu cá, sau lưng anh cắm một dãy cần câu xanh đỏ các loại như một giá binh khí. Không hiểu anh câu cá gì, mà đứng nguyên trên bãi biển rồi quăng sợi dây cước ra rõ xa. Thằng bé từ chối xuống nước, nhưng khi đã ướt chân rồi thì bắt đầu chạy, phút chốc đã ướt từ đầu đến chân. Trông nó thật đáng yêu, xinh đẹp, bé bỏng, tinh nghịch, trẻ thơ, đầy niềm vui. Nó đã năm tuổi và sang năm sẽ đến tuổi đi học, nhưng vẫn như một đứa ba tuổi rưỡi. Rồi nó sẽ lớn lên thôi, nuôi mãi rồi cũng sẽ lớn, chúng tôi tự nhủ với nhau như vậy.

Tôi vừa trông nó, vừa nhìn xuống cát và nhặt nhạnh vài mẩu vụn san hô mà sóng đánh vào. Những mẫu vụn san hô màu trắng này tôi nhặt về để lưu giữ kỷ niệm của ngày hôm nay. Kỷ niệm đẹp thường bị ngày tháng bào đi như vết chân trên nền cát xốp bị sóng bào. Chúng sẽ được lưu lại nếu ta có vật gì để chúng bám vào. Tôi nhét những mẩu san hô trắng vào túi sau quần bò, rồi khi lên bờ thì bỏ vào cái ví da.

Tôi hy vọng thằng bé sẽ lớn lên, nuôi mãi rồi cũng sẽ lớn. Đó là một niềm hy vọng lớn, một niềm hy vọng đẹp. Vì nó không dễ dàng nên nó đáng để hy vọng. Giá trị của niềm hy vọng nằm ở chỗ nó không dễ thành hiện thực, và có thể không bao giờ thành hiện thực. Thậm chí chúng ta phải có đủ sức mạnh để sống ngay cả khi ấy. Chúng tôi yêu thương thằng bé, chúng tôi dành dụm nghị lực, tình yêu, sự điềm đạm, lòng kiên nhẫn, dựa vào nhau để yêu và nuôi lớn nó.

Chặng tiếp theo đường rất xấu, mưa to, ngay cả một tài xế thượng hạng như tôi cũng mệt phờ cả râu khi tới được Huế vào tối muộn. Về tới khách sạn tôi không tắm rửa gì cả, chui lên giường và ngủ say ngay khi vẫn còn phải tìm điều khiển và bấm tìm hoạt hình Tom Jerry cho thằng bé xem.

Đến sáng thức dậy, ăn sáng xong, lên phòng, thì tôi nhìn thấy tờ giấy thằng bé viết những chữ số và tôi thấy rằng những vụn san hô không còn cần thiết, tôi đã có một điểm ghim khác cho hành trình này.

Subject

Thằng bé năm tuổi – ba tuổi rưỡi của tôi, không ai bảo, tự lấy tập giấy của khách sạn và viết số từ 1 -10. Số 1 ngược chiều, số 3 ngược chiều, số 6 ngược chiều, số 9 ngược chiều chui vào bụng số 4, số 10 không giống ai… nhưng đó là thành quả của học tập. Lòng tôi trào lên niềm thương xót. Tôi hay trêu anh chị nó, phải học tập em Kiên, Kiên là đứa học tập chăm chỉ nhất nhà. Từ năm hai tuổi, ngày nào cũng phải học thêm, giờ mẹ nó vẫn phải đưa nó đi học thêm với các cô giáo dạy trẻ tự kỷ, rồi tuần hai buổi tối tới nhà cô giáo Phương Anh của anh chị nó để học, hy vọng cô Phương Anh sẽ bảo kê nó để vào được lớp một. Nó chịu ngồi cả buổi chứ không chui xuống gầm bàn – cô Phương Anh nhận xét, thật là một lời khen ngợi khiến cha mẹ phải mừng vui.

Thằng bé này sẽ đi học được, tôi bảo vợ. Một tuần liền ở chung với nhau trong khoảng không gian 3m2 của chiếc xe, thằng bé nói nhiều hơn, chúng tôi hạnh phúc khi nghe những tiếng nói của nó. Chúng tôi không gọi nó là trẻ đặc biệt, không gọi nó là trẻ VIP, chúng tôi gọi tên đúng sự thật, nó là một thằng bé tự kỷ. May mắn làm sao, tất nhiên tôi luôn cực kỳ may mắn, thằng bé chỉ bị nhẹ thôi, nó đang tiến bộ.

***

Hội chợ đêm của những xe công-ten-nơ

Chúng tôi lên Buôn Mê Thuột để dự đám cưới thằng em họ vợ. Nó tán được một em cafe Ban Mê, đường xá xa xôi, đám cưới ở đằng nhà gái thì các cụ bên đàng trai ngoài bắc đều già yếu không đi được, chúng tôi lãnh trách nhiệm tham dự. Đâm oai, chúng tôi được giới thiệu là anh chị của chú rể đi xe từ bắc vào để đi đám cưới. Vợ tôi thửa một chiếc áo dài màu xanh lá, làm tóc đẹp, rất xinh và nền nã. Còn tôi lên đồ complet cà vạt tất nhiên ngon. Tôi hơi bất ngờ vì cô dâu, thằng em họ vợ thế mà khá, cô dâu rất xinh và kháu, nhà thì giàu.

Phải nói là trục cao tốc Bắc Nam đang làm khá tốt. Mọi năm, một ngày đường xa nhất mà tôi có thể với tới, là Hội An. Đi từ Hà Nội vào buổi sáng sớm, thường tôi đến Hội An đã quá nửa đêm. Lần này ngày đường đi được xa hơn.

Chúng tôi tới mạn Huế tầm 8h tối, rẽ vào trạm xăng, đổ xăng xong thì có hai thằng vẫy vẫy. Một thằng trẻ và béo, một thằng già hơn và gầy, trông cả hai thằng đều không uy tín lắm. Tôi kéo kính xe để xem bọn chúng bảo gì. Đại loại anh chị cho em đi nhờ, em bị hỏng xe, xe tải của em ở trên dốc cách đây 1km, đường đóng nhưng vẫn đi được, qua chốt anh sẽ đi nhanh hơn. Tóm lại anh được gì, tôi hỏi lại. Anh sẽ được thông chốt, vợ tôi phiên dịch. OK. Tôi luôn tin vào trực giác của vợ, hễ vợ tôi bảo ok thì tức là ok. Thằng gày ôm con chó lên ngồi cạnh tôi, chó hôi vãi cả đái. Nhưng đúng như nó nói, thông được chốt, tôi thả 2 thằng ấy ở cái xe tải hỏng của chúng bên vệ đường. Rồi phi tốc độ gần trăm, đường chả có ai cả. Hết chặng đó, mát ga, phi thẳng tới Quảng Ngãi mới có 10h tối.

Tất nhiên tôi là một tay lái nhân dân và các con tôi đều lớn lên trên xe. Nhưng một ngày đường để từ Hà Nội vào đến tận Quảng Ngãi, thì đúng là một tiến bộ của đường xá. Nhớ vợ hay nói, đi đường xa phải thắp hương khấn các cụ phù hộ cho, tôi bàn, đúng là các cụ phù hộ. Tự nhiên có thằng ôm con chó hôi vãi đái lên xe xin đi nhờ, mới thông được chốt, mới đi đến tận Quảng Ngãi. Hôm sau mới từ Quảng Ngãi lên Ban Mê đúng giờ.

Chặng về, từ Ban Mê và Đà Lạt, đường xấu kinh khủng. Trận bão và lụt lội vừa qua gây ảnh hưởng nặng nề. Rồi từ Đà Lạt về Tuy Hòa, rồi từ Tuy Hòa về Huế… đường lổm nhổm. Ở một chặng về gần đến Huế, xe công túm tụm lại với nhau rực sáng cả góc trời, từng chiếc từng chiếc bò qua những mét đường ổ voi ổ trâu. Tôi bảo vợ, đúng là mình thì chẳng bằng ai, nhưng sướng gấp vạn anh em tài xế đêm hôm lao động như thế này. Trên mạng ai cũng tiền trăm tiền tỉ, nhưng ở trên đường, người ta cày và cày để kiếm tiền nuôi vợ con.

Sẽ chỉ có rất ít người trong đám tài công kia, có thể có cuộc sống tốt hơn qua năm tháng tích lũy. Đa phần trong số họ sẽ cứ thế trên mỗi mét đường mỗi tuần mỗi tháng mỗi năm.

Ở cái hội chợ của các xe công sáng rực một vùng trời ấy, tôi những muốn các con tôi, đứa lớn học lớp 11 đứa nhỏ học lớp 9, nhìn thấy. Cuộc sống không dễ dàng, không chiu, không phải là du lịch sang chảnh, không tỉ nọ tỉ kia, không là facebook không là tiktok, cuộc sống là cái hội chợ sáng rực đèn bên rìa đường quốc lộ sụt lún này, nơi người ta dò dẫm đặt từng cái bánh xe lên gờ đất. Nơi tôi cũng vặn vô lăng như đi Vịnh Xuân quyền để từng vòng quay bánh xe để vợ con có thể ngồi êm ái, vừa đề phòng chiếc xe phía trước, chiếc công bên phải, chiếc công ngược chiều… cố giảm tỉ lệ rủi ro nếu có sự cố gì chúng ngã đè bẹp mình. Sự cố nào cũng cần được đề phòng trước, như Bố Già nói, chỉ có đàn bà và trẻ con được phép bất cẩn, đàn ông thì không. Giữa những ổ voi ổ trâu và những chiếc xe công nghiêng ngả tứ bề xung quanh, tôi cảm thấy mình rất manly, rất đàn ông, đang lao động cùng những người đàn ông khác giữa cái hội chợ đèn pha vui vẻ.

Lao động là vinh quang. Hồi nhỏ đi học các cô cứ ra rả thế theo sách giáo khoa. Khi lớn lên thì tôi không thấy vinh quang lắm. Chỉ đến khi trầy da tróc vẩy, làm mãi vẫn như khuấy nước ao bèo, thấy chỉ cần đút được cơm vào mồm các con và cho chúng đi học, mà chúng vui với việc học là mình khấp khởi, thì mới thấy lao động rất vinh quang.

Chúng tôi đi suốt một tuần trên đường chỉ với thằng con trai bé. Tôi rất nhớ hai đứa con lớn. Về tới cửa nhà, tôi rất muốn ôm thằng con cả một cái, thì nó lại chưa đủ lớn để ôm cha nó sảng khoái theo kiểu đàn ông. Còn con gái, thì nó lại đã quá lớn để bá vai bá cổ ôm bố một cái thật chặt. Nhưng không sao, tôi biết bọn chúng đều muốn ôm tôi một cái.

***

Ông cụ Đ-răng

Hôm từ Buôn Mê Thuột, chúng tôi xuôi theo con đường xấu vãi đái để trôi về Đà Lạt, rồi hôm sau chúng tôi xuôi về Đơn Dương, thị trấn Dran. Đ-răng mới là đọc đúng, ông cụ nói. Ông cụ là cha của một người bạn của tôi. Tuy đến thăm cụ với vai trò là bạn của con trai cụ, nhưng tôi lại trở thành nhân vật phụ. Kép chính là vợ tôi, vợ tôi đọc sách của cụ, hẹn gặp thăm cụ, còn tôi chỉ là thằng lái xe. Cụ thao thao kể chuyện này chuyện nọ cho vợ tôi nghe. Khi chào cụ ra về, trên xe, vợ tôi nói, cái gì định làm thì phải làm ngay kẻo không có dịp khác. Vợ tôi nói, ông cụ trông giống như một người đã đi hết hành trình của mình, ông cụ sẽ không đi đâu nữa.

Cụ khoe chúng tôi một bộ sách rất dày, khổ A4 gồm 3 cuốn bọc bìa xanh, trông như những luận án. Đó là tập hợp của những câu chuyện nho nhỏ về cuộc đời ông và về thị trấn Đ-răng, mà ông đã trích lọc để in thành một tập sách mỏng. Tôi lướt qua một số trang, chúng rất hay, rất nhiều chi tiết. Đó là chuyện về những nhân vật có thật, rất sống động, ông thầy giáo, ông bác sỹ, bà chủ tiệm… mà nếu không có 3 cuốn luận án này, thì họ chắc hẳn chưa từng tồn tại, họ đã bay lên giời từ quá lâu rồi và không ai còn nhớ đến. Ba tập sách viết bằng thứ văn phong điềm đạm, mềm mại, nhiều tư lự giãi bày nhưng lại gọn gàng, quả là một biên niên sử quý giá của xứ Đ-răng, một xứ sở êm đềm mà ngay cả bản thân nó cũng không nhiều người biết tới.

Tôi động viên ông cụ, bác đi chữa mắt đi, giờ người ta làm tiểu phẫu mắt cho người lớn tuổi rất tốt. Những cuốn sách này hay quá, bác phải chữa cho sáng mắt lại để còn viết tiếp chứ. Nhưng dường như ý đó không làm cho ông cụ quyết tâm sửa mắt, vì đúng như vợ tôi nói, dường như cụ đã đi hết hành trình, cụ sẽ dừng lại ở bến xe buýt này thôi và yên tĩnh trong những ngày còn lại. Bà cụ đã mất được chừng hai năm, nhà cửa vẫn khang trang, nhưng gió thổi vào sàn nhà nhiều bụi và vụn lá khô.

***

Trong cabin, đêm Sài Gòn, bài thánh ca và bài thơ có lẽ khó xác thực

Sau chuyến đi một tuần thỏa mãn nỗi nhớ những con đường, mà tôi vặn vô lăng sái cả tay và điều ga đến mỏi nhừ cả gót chân phải, thì tôi lại quay về cái cabin của mình, với màn hình máy tính và bàn phím. Một ngày trôi qua như nháy mắt, rồi lại đến đêm, đêm cũng trôi qua như nháy mắt. Mới thứ hai đi đá bóng, thì lại đã đến thứ hai tiếp theo. Tính ra lại sắp thứ hai nữa rồi. Ly whisky gần nhất khéo cũng đã hơn tháng.

Đêm nay youtube dẫn dắt tôi nghe lại các bài hát Việt cũ và bolero, và lọt vào một băng nhạc mà nghe một hai bài thì nhớ rằng mình đã nghe nó rất nhiều hồi còn 15-17 tuổi. Đó là băng nhạc Đêm Sài Gòn 2 của Trung tâm Asia, dạo đó cha mẹ có cái băng đó ở nhà và đó hầu như là băng nhạc video chất lượng nhất, cả hình ảnh và âm thanh. Từ lúc nhớ ra đây chính là cái băng video đó, thì tôi nhớ lại toàn băng. Tất cả hình ảnh, tất cả các bài hát, tất cả các ca sỹ, vũ đạo của họ, nhớ những hòa âm phối khí và nghe thấy những tiếng đàn từ trước khi nó phát ra.

Tôi nhớ ra những câu mình hay hát bâng quơ vô thức, khi rửa bát, khi đi trên đường…, đại loại những khi vui vẻ không gì tư lự, vô tư như đứa trẻ, là từ băng nhạc đó. “Còn đây không gian xưa, quen gót lầy, bên hè phố cây lá thưa chim đã bay”, “ta gặp nhau yêu chẳng hạn kỳ, mây ngàn gió núi đọng trên mi…” là những giai điệu ăn sâu vào tôi từ khi mới có những rung động đầu đời, mà đa phần những rung động đó không phải vì gái, mà vì hoài niệm ngược về một tương lai xa xôi chưa biết trước nhưng đầy những không gian rộng lớn và niềm cô đơn ngọt ngào, cây lá thưa chim đã bay mây ngàn gió núi.

*** Hôm nay kết thúc cái entry viết mãi chưa xong này thôi. Sớm mai, vài tiếng nữa, là phải dậy để đi thăm mộ thằng Thành. Đã qua 49 ngày một hai tuần, và ngày mai người ta sẽ xây cái mộ của nó. Tôi đã quên nó khỏi những sự kiện hàng ngày.

Nhưng tôi sẽ không quên ánh mắt ngạc nhiên mà lấp lánh niềm vui của nó trong đêm ấy, mỗi một lần nó lấy lại ý thức, 10 phút một lần, ơ anh Đức à, hôm nay anh ở đây với em à. Ừ. Trong năm phút sau nó bàn với tôi về kế hoạch trốn viện, em muốn về nhà, bây giờ nhé, anh ra gọi một con taxi, rồi anh đỡ em ra. Chú đi thế đéo nào được, trời sáng đã. Không em đi được. Thử đứng dậy anh xem nào. Thế là nó lại cố ngồi dậy, và tôi lại đỡ nó nằm lại, nhìn kia, còn thuốc đang truyền, hết thuốc anh đưa chú về. Thế anh ngủ đi nhé, kệ em.

Cứ thế, 10 phút một lần trong suốt cả đêm ấy. Đó là đêm dài nhất mà tôi đã từng trải qua. Quá nhiều ngạc nhiên, quá nhiềm niềm vui, anh Đức à hôm nay ở đây với em à, quá nhiều kế hoạch trốn viện, quá nhiều lời nói dối, ờ chú nằm yên đi hết thuốc anh đưa chú về nhà.

Tôi cũng không thể quên được vị mặn lạnh giá trên môi khi tôi hôn lên trán nó, sau khi nó qua đời ở đêm sau đó. Vĩnh biệt chú, thôi giờ muốn đi đâu thì đi nhé đéo cần taxi hay xe ôm nữa nhé thằng em.

Tối Noel vừa rồi, bữa cơm, tôi kể với các con, bố và mẹ đi chơi Noel với nhau đúng một lần, đó là lần đi cùng cả chú Thành và bạn của chú ấy, ngồi cafe trên đường Quán Thánh. Vợ tôi lắc đầu, em không nhớ gì. Đâm ra tôi lấy làm nghi ngờ về câu chuyện và ký ức của tôi. Đêm Noel năm ấy, tôi động viên thằng Thành, và hộ tống nó đi cài một bông hoa hồng và một lá thư ngắn vụng về lên cánh cổng để tỏ tình với một cô gái nào đó. Việc nó không tán được gái sau đó là có thật, chả đứa con gái nào đổ vì cái trò tồ tệch vụng về đó. Bông hoa hồng cài trên cổng là có thật. Quán cafe trên Quán Thánh là có thật. Chúng tôi ngồi ở đó là có thật. Tôi đi cùng vợ tôi là có thật. Đêm Noel là có thật. Nhưng có thật là tất cả những chi tiết đó xảy ra vào cùng một buổi tối đó không.

Đó là cách mà ký ức của người ta vận hành.

***

“Nhà nàng ở cạnh nhà tôi Cách nhau một dậu mồng tơi xanh dờn..”

Đó là câu thơ nổi tiếng của ngài Nguyễn Bính. Ai cũng biết những câu thơ này. Nhưng trong những ký ức có lẽ khó lòng xác thực của ông già vợ tôi, thì bài đó ngài Nguyễn Bính viết tặng mẹ của ông ấy, tức bà nội của vợ tôi, bà Chung. Bà Chung có thật, bà ấy đã mất chừng hơn mười năm. Ngài Nguyễn Bính có thật, ngài thật sự có lúc ở Hoàng Mai. Làng Hoàng Mai gần chợ Mơ là có thật, bài thơ kia có thật, chuyện ngài Bính tán và làm nhiều thơ cho bà Chung là có thật. Bà được gả cho con trai của Nguyễn Văn Vĩnh là có thật. Đám cưới bà thì ngài Bính lặn lội từ miền trung ra để dự là có thật. Dĩ nhiên phải thật, nên rất nhiều năm sau này tôi mới đến tán con gái nhà ấy bằng cả một đội bóng và bằng những phong thư gác trên cổng.

Nhưng bài thơ kia có phải viết cho bà không, thì khó lòng xác thực. Và xác thực không để làm gì. Tất cả lịch sử của ngài Bính, bà Chung nàng thơ, của ông Kỳ là chồng bà… đều chỉ còn là những mảnh vụn ký ức sống trong những người ngày nay còn sống.

***

Trong ký ức của chúng ta, mọi người, và chính bản thân chúng ta, đều là dân làng Macondo của Trăm Năm Cô Đơn. Ngôi làng ấy một ngày nọ tự nhiên bị bệnh quên, họ quên đi tất cả mọi thứ, thậm chí không thể nhớ được tên của đồ vật, và phải ghi tên và dán nhãn lên những món đồ. Có những trận mưa kéo dài mấy năm. Có những cuộc truy hoan vang vọng khiến cả làng không ai ngủ được. Có cô gái thánh thiện đến nỗi một ngày kia cô ta cứ thế bay lên trời mà không ai ngạc nhiên.

Khi sống trong cabin đủ lâu, mà buổi trưa trời đẹp đưa vợ đi lên ô Quan Chưởng làm bát ngan chặt, cũng chính là một cuộc du lịch ngang lái xe một tuần trời, thì người ta nhận ra tính tiểu thuyết của bản thân mình, của mọi người, hay cuộc đời nói chung.

Tôi rải những vụn mảnh san hô trên bàn làm việc, trong đó có một mảnh to. Viết đến đây tôi nhặt nó và nắm trên tay. Không phải mảnh giấy viết những chữ số ngược, chính mảnh san hô này sẽ lưu giữ mảnh ký ức này của tôi.

Đường từ Đ-răng xuống biển, một ông già bán những quả dừa, vị trung niên câu cá với những chiếc cần câu xanh đỏ dựng trên cát như một cái giá binh khí, thằng con bé của tôi nô đùa trên sóng và tôi vừa để mắt đến nó vừa nhặt những mẩu san hô.