Huế! một địa danh vừa ngắn gọn, vừa thân thương.
Nói đến Huế, người ta sẽ liên tưởng đến một thành phố xa xôi với những ngày hè nắng chang chang thiêu đốt thịt da; những ngày đông mưa dầm dề, trắng trời thối đất; mưa rã rời, dai dẳng với cái lạnh cắt da.
Huế với điệu hò câu hát não nùng, buồn rười rượi, những khúc Nam Ai, Nam Bình, Hành Vân, Lưu Thủy, Tương Tư.. bềnh bồng trên sông nước khi chiều xuống, lúc đêm về.
Huế với dòng Hương Giang ‘ngọc tan thành nước’; với đỉnh Ngự ngỡ ngàng mây trắng thông reo; với lăng tẩm đến đài âm thầm cổ kính, với hoàng cung ‘năm thức mây phong nếp áo chầu’; với áo tía lọng vàng; với lầu son, gác phượng…
Huế với những món ăn thanh đạm, đậm đà mang nặng tình quê hương bát ngát…
Huế thật quyến rũ, thật đặc biệt, và rất chi là Huế.
Nhưng nổi bật và đặc thù hơn hết trong những thứ rất Huế, đó là: tiếng nói Huế.
Tiếng nói Huế làm nhiều chàng trai tương tư, “ngớ ngẩn một trời thơ bay” và suốt đời chỉ mong đợi một phút giây nghe em nói:
Nghe em nói tự bao giờ,
Bao giờ chừ vẫn ngẩn ngơ lạ kỳ
Em ơi, giọng Huế có chi
Mà trong hoa nắng thầm thì cơn mưa
Nghe hoài nghe mãi chưa bưa,
Anh thương, thương quá tiếng xưa vọng về
.. .. .. .. .. .. .. .. .. ..
Nhiều khi như lạ như quen
Giữa mênh mông đọng giọt em ngọt ngào
.. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .
Xanh trong như tiếng chim chuyền
Nhìn em mái tóc che nghiêng mắt cười
Suốt đời giây phút này thôi
Lắng nghe em nói, một trời thơ bay
(Một Trời Thơ Bay, Lê Nhược Thủy)
Tiếng Huế nói ra rất lạ tai với những từ: chi, mô, răng, rứa, tê, chừ, ni, nớ, hỉ, hả… và giọng nói Huế cũng rất khó nghe, dễ gây bối rối ở những người bạn đồng hương Việt Nam từ các tỉnh thành khác. Có thể vì vậy mà chàng Lê Nhược Thủy này sinh ra ngớ ngẩn rồi tương tư cô nàng? Hay vì cô em quá đẹp đã hớp hồn chàng? Nhưng có lẽ Lê Nhược Thủy phải là một chàng trai Huế ‘chính hiệu con nai’ mới hiểu được nàng nói, rồi cảm thông, rồi say men tình…
Nhà văn Thanh Nam, người bạn đời của nhà văn Túy Hồng đã nhận xét và phát biểu cảm nghĩ về tiếng Huế như sau:
‘Người Huế nói chuyện với nhau bằng ‘ngoại ngữ Huế’. Người Nam, người Bắc chỉ đứng ở ngoài mà nghe, không làm sao chen vào được một câu’(Túy Hồng: Áo Rộng Khăn Vành, Tiếng Sông Hương, 1990)
Mới nghe qua tưởng như chuyện khôi hài đùa cợt; nhưng qua kinh nghiệm thực tế, qua giao tiếp, ý kiến trên không phải là không có lý. Chúng ta thử đọc qua bài:
Rứa Răng (Ghi chú)
Đời là rứa hay là răng rứa hí
Rứa răng đời không một chút vui tươi.
Thấy răng răng nên đôi lúc mỉm cười.
Vì rứa rứa nên dường như muốn khóc
Câm lặng rồi, rứa răng cứ mời mọc.
Có nói nhiều răng rứa cũng như ri
Mà răng răng, rứa rứa có ích chi
Rứa răng, răng rứa hỡi người đà chán lắm
Có nhiều lúc hỏi răng mà như rứa
Đành trả lời như rứa chứ mần răng
(Đời là thế, hay là sao thế nhỉ)
(Thế sao đời không một chút vui tươi)
(Thấy sao sao nên đôi lúc mỉm cười)
(Vì thế đấy nên dường như muốn khóc)
(Câm lặng rồi, thế sao cứ mời mọc)
(Có nói nhiều, sao thế cũng thế thôi)
(Mà sao sao, thế thế có ích chi)
(Thế sao, sao thế… )
(Có nhiều lúc hỏi sao mà như thế)
(Đành trả lời như thế, chứ làm sao)
(Vô Danh, ĐVP ‘chuyển ngữ’)
